Lưu ý khi sử dụng thuốc ức chế tiết axit dài ngày

Lưu ý khi sử dụng thuốc ức chế tiết axit dài ngày

ĐIỀU TRỊ

Sử dụng thuốc ức chế tiết axit dịch vị trong điều trị trào ngược dạ dày – thực quản và viêm loét dạ dày sẽ làm giảm nồng độ axit trong dạ dày và gây ra nhiều hậu quả xấu. Ở kỳ trước, chúng tôi đã trình bày hai trong bốn nhóm tác hại của việc sử dụng các loại thuốc này là:

– Sự phát triển quá mức của vi khuẩn

– Hấp thụ dinh dưỡng bị suy yếu

Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày hai hậu quả còn lại:

– Giảm sức đề kháng với nhiễm trùng

– Gia tăng nguy cơ ung thư và các bệnh khác

3. Tác hại giảm sức đề kháng của cơ thể

Miệng, thực quản và ruột là nơi sinh sống của 400 đến 1000 loài vi khuẩn. Tuy nhiên, một dạ dày khỏe mạnh bình thường gần như hoàn toàn vô trùng. Tại sao? Bởi vì axit dạ dày giết chết vi khuẩn.

Đây là một trong số những vai trò quan trọng nhất của axit dạ dày. Acit dạ dày giúp ngăn chặn vi khuẩn có hại có thể có trong thức ăn hoặc đồ uống mà ta tiêu thụ hoặc từ  không khí mà chúng ta hít thở xâm nhập vào ruột. Đồng thời, nó cũng ngăn cản vi khuẩn bình thường từ ruột di chuyển vào dạ dày và thực quản để gây ra viêm nhiễm. Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc ức chế tiết axit kéo dài,  lượng axit dạ dày bị hạ thấp (pH<5) thì nhiều loài vi khuẩn có thể bắt đầu trở nên phát triển mạnh.  Một dạ dày mà không có nhiều axit là một môi trường hoàn hảo cho nhiều vi khuẩn phát triển: tối, ẩm ướt, ấm áp, đầy đủ chất dinh dưỡng. Hầu hết những vi khuẩn này không giết chết chúng ta ngay lập tức. Nhưng một số người có pH dạ dày đủ cao để thúc đẩy sự phát triển nghiêm trọng của vi khuẩn gây bệnh.

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng rằng việc sử dụng các loại thuốc ức chế tiết axit làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng nguy cơ nhiễm trùng một số loại vi khuẩn sau:

Helicobacter pylori

Salmonella

Campylobacter

Vibrio cholerae

Listeria

Giardia

C. difficile

Các nghiên cứu khác cũng phát hiện ra một số nguy cơ khác có thể tăng như viêm phổi, lao, thương hàn, chứng bệnh kiết lỵ.

Không chỉ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, việc sử dụng các thuốc ức chế tiết axit kéo dài còn có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể. Trong các nghiên cứu in vitro cho thấy rằng các thuốc ức chế bơm proton làm suy giảm chức năng bạch cầu trung tính, giảm sự bám dính vào tế bào nội mô, giảm tính diệt khuẩn giết vi khuẩn, và ức chế bạch cầu trung tính thực bào và tiêu thể thực bào axit hóa.

4. Tác hại gia tăng nguy cơ ung thư và các bệnh khác

Việc sử dụng các thuốc ức chế tiết axit dạ dày kéo dài có thể làm tăng  nguy cơ mắc ung thư dạ dày và một số bệnh khác như viêm loét dạ dày, các bệnh về đại tràng như hội chứng ruột kích thích, viêm đại tràng, bệnh Crohn, trầm cảm, bệnh tự miễn.

Tăng nguy cơ viêm loét dạ dày và ung thư dạ dày

Như đã trình bày ở trên, sử dụng kéo dài các thuốc ức chế tiết axit dịch vị có thể làm tăng nguy cơ nhiễm hoặc tăng điều kiện thuận lợi cho Helicobacter pylori phát triển. Vi khuẩn này là nguyên nhân hàng đầu gây ra viêm loét dạ dày mãn tính, mà giai đoạn cuối của nó là tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày. Khi đó tế bào tuyến của niêm mạc dạ dày mất đi hoặc bị thay thế bằng các tế bào biểu mô dạng niêm mạc ruột, các tuyến môn vị và mô xơ. Viêm teo niêm mạc dạ dày lại có nguy cơ rất cao biến chứng thành ung thư dạ dày. Do vậy, không phải là một bước nhảy vọt lớn khi chúng ta nghi ngờ rằng loại thuốc ức chế axit làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày ở những người bị nhiễm H. pylori.

Một số lý thuyết về cơ chế gây ung thư của thuốc ức chế tiết axit dịch vị. Có giả thuyết cho rằng, các thuốc ức chế bơm proton làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày bằng cách gây hypergastrinemia. Đây là tình trạng tăng hàm lượng gastrin trong máu một cách bất thường. Với liều tiêu chuẩn 20mg/ngày của Prilosec (chứa esomeprazol) làm tăng gấp 3 – 4 lần mức gastrin trong máu. Ở những người có chứng ợ nóng không đáp ứng với liều tiêu chuẩn, điều trị lâu dài với liều cao đến 40 hoặc 60 mg đã tạo ra mức gastrin nhiều gấp mười lần bình thường. Hậu quả của nồng độ gastrin trong máu cao là làm cho niêm mạc dạ dày phình trướng, dễ phát triển thành ung thư.

Một giả thuyết khác về những gì gây ra ung thư dạ dày liên quan đến nồng độ cao của chất nitrit (chất gây ung thư) trong dịch dạ dày. Acid ascorbic (vitamin C) giúp loại bỏ nitrat trong dịch dạ dày bằng cách chuyển đổi nó thành oxit nitric. Tuy nhiên, quá trình này phụ thuộc vào độ pH của dịch vị dạ dày là ít hơn 4. Nếu pH quá cao, quá trình này không xảy ra, đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ ung thư dạ dày.

Tăng nguy cơ viêm đại tràng, hội chứng ruột kích thích và bệnh Crohn

Adenosin là một chất trung gian hòa giải quan trọng của viêm trong đường tiêu hóa. Mức độ ngoại bào cao của adenosine giúp ngăn chặn và giải quyết tình trạng viêm mãn tính ở cả hai bệnh Crohn và viêm loét đại tràng. Sử dụng kéo dài thuốc ức chế bơm proton đã được chứng minh là làm giảm nồng độ ngoại bào của adenosine, dẫn đến sự gia tăng tình trạng viêm trong đường tiêu hóa; đồng thời làm tăng nguy cơ hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng của hội chứng ruột kích thích.

Tăng nguy cơ trầm cảm, lo âu và rối loạn tâm trạng

Chưa có một nghiên cứu cụ thể về mối liên hệ giữa việc sử dụng kéo dài các thuốc chống ức chế tiết axit gây và sự trầm cảm, lo âu. Tuy nhiên, sự hiểu biết cơ bản của mối quan hệ giữa tiêu hóa protein và sức khỏe tâm thần cho thấy rằng có thể có một kết nối.

Axit dạ dày có vai trò hoạt hóa pepsinogen thành pepsin – enzym chịu trách nhiệm phá vỡ protein thành các axitamin thành phần và các peptid. Trong đó có một số axit amin thiết yếu – là những axit amin mà cơ thể chúng ta không sản xuất được, chúng ta phải nhận nó từ thực phẩm.

Nếu pepsin bị thiếu, nghĩa là axit dạ dày không đủ để hoạt hóa pepsinogen, protein chúng ta ăn sẽ không được chia nhỏ thành các axit amin và peptide thành phần, có thể chúng ta sẽ thiếu một số axit amin thiết yếu, chẳng hạn như phenylalanine và tryptophan. Những axit amin này đóng một vai trò rất quan trọng trong sức khỏe tâm thần và hành vi. Thiếu chúng có nguy cơ tăng phát triển rối loạn trầm cảm, lo âu.

Tăng nguy cơ mắc bệnh tự miễn

Axit dạ dày thấp có thể làm cho những phân tử protein không tiêu hóa hết xâm nhập vào máu. Hiện tượng này người ra gọi là hội chứng rò rỉ ruột – leaky gut syndrome. Các protein đó sẽ được coi là chất lạ đối với cơ thể. Kết quả là xảy ra đáp ứng miễn dịch để loại bỏ nó tương tự như cơ chế loại bỏ các tác nhân gây bệnh của hệ thống miễn dịch.

Đây là loại phản ứng miễn dịch chống lại các protein chúng ta đã ăn, góp phần vào bệnh dị ứng thực phẩm. Một cơ chế tương tự mà không được hiểu đầy đủ là người bị rò rỉ ruột có khả năng phát triển các bệnh tự miễn nghiêm trọng hơn như lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp, bệnh tiểu đường type 1, bệnh Graves, và các rối loạn viêm ruột như Crohn và viêm loét đại tràng.

Mời các bạn đón đọc kỳ cuối – Lên kế hoạch loại bỏ ợ nóng và trào ngược dạ dày – thực quản mà không cần dùng thuốc

Bình luận (0)