Chú ý khi dùng thuốc ức chế bơm proton dài ngày

Chú ý khi dùng thuốc ức chế bơm proton dài ngày

ĐIỀU TRỊ

Những mối nguy khi sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) dài ngày

Như trước đã đề cập (kỳ I), thực trạng trào ngược dạ dày – thực quản hiện đang gia tăng đều đặn nhưng không được chú trọng cao do sự sẵn có của các thuốc ức chế bài tiết acid dịch vị. Bao gồm các thuốc kháng histamin H2 ( cimetidin, ranitidin, famotidin…) và thuốc ức chế bơm proton (omeprazol, esomeprazo, pantoprasol, rabeprazol….). Bệnh nhân có thể mua những loại thuốc này ở hầu hết các hiệu thuốc mà không cần đơn của bác sĩ. Xong nhóm thuốc này chỉ có tác dụng cải thiện triệu chứng, không giải quyết được tận gốc nguyên nhân gây bệnh. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những hậu quả lâu dài của việc sử dụng các thuốc chống tiết acid dài ngày. Có thể chia thành 4 nhóm:

– Tăng phát triển quá mức của vi khuẩn

– Hấp thụ dinh dưỡng bị suy yếu

– Giảm sức đề kháng với nhiễm trùng

– Gia tăng nguy cơ ung thư và các bệnh khác

Trong kỳ này, chúng tôi chỉ đề cập đến hai tác dụng phụ đầu tiên.

1. Tăng sự phát triển quá mức của vi khuẩn:

Như đã đề cập ở kỳ II, khi nồng độ acid trong dạ dày thấp (pH dich vị > 5) sẽ gây ra kém hấp thu carbohydrat dẫn đến tăng sự phát triển quá mức của vi khuẩn và ngược lại. Điều đó là do khi nồng độ acid trong dạ dày thấp làm giảm kích thích giải phóng các enzyme tuyến tụy vào ruột non dẫn đến kém hấp thu carbohydrat. Carbohydrat không được tiêu hóa hết sẽ trở thành thức ăn cho vi khuẩn để chúng phát triển mạnh mẽ.  Ngược lại, như chúng ta đã biết một trong những vai trò chính của acid dạ dày là ức chế sự phát triển quá mức của vi khuẩn. Khi pH dạ dày cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển mạnh mẽ không chỉ ở dạ dày mà còn ở các phần khác của đường ruột. Vi khuẩn phát triển quá mức làm pH dạ dày cao hơn nữa lại gây kém hấp thu carbohydrate. Hậu quả của quá trình này là gây ra viêm nhiễm và tạo khí, làm tăng áp lực ổ bụng, rối loạn cơ thắt dưới thực quản dẫn đến trào ngược dạ dày – thực quản. Như vậy, việc sử dụng các thuốc ức chế tiết axit để làm giảm axit dịch vị trong điều trị trào ngược dạ dày – thực quản dường như sẽ tạo ra một vòng luẩn quẩn. ( Như sơ đồ)

Sự phát triển quá mức của vi khuẩn có hại còn có một số tác dụng không mong muốn khác, bao gồm giảm sự hấp thụ chất dinh dưỡng, tăng viêm (ví dụ: viêm dạ dày do Helicobacter pylori, viêm đại tràng giả mạc do Clostridium difficile….), và làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày.

2. Giảm hấp thu chất dinh dưỡng

Axit dạ dày là một điều kiện tiên quyết để tiêu hóa khỏe mạnh. Sự phân hủy và hấp thụ các chất dinh dưỡng xảy ra với một tốc độ tối ưu chỉ trong một phạm vi nào đó của nồng độ axit trong dạ dày. Nếu không có đủ axit, các phản ứng hóa học thông thường cần thiết để hấp thụ các chất dinh dưỡng bị suy yếu. Tình trạng này kéo dài (do dùng thuốc ức chế tiết axit) có thể dẫn đến các bệnh như thiếu máu, loãng xương, bệnh tim mạch, trầm cảm, và nhiều hơn nữa.

– Giảm hấp thu protein và chất béo

Axit dạ dày đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tiêu hóa carbohydrat, protein và chất béo. Trong dạ dày, enzym tiêu hóa protein được bài tiết dưới dạng chưa hoạt động là pepsinogen. Pepsinogen được hoạt hóa thành pepsin khi môi trường pH ở dạ dày < 5,1. Pepsin có tác dụng cắt các liên kết peptid (- CO – NH -) mà phần (- NH -) thuộc về các acid amin có nhân thơm (tyrosin, phenylalanin). Sự phối hợp giữa acid HCl và pepsin có tác dụng tiêu hóa protein rất mạnh. Dùng thuốc ức chế tiết axit kéo dài gây thiếu acid dịch vị, làm cho pepsin không được  hoạt hóa đầy đủ để phục vụ cho việc phân giải protein thành một số axit amin và peptid. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu hụt các axit amin thiết yếu, do đó có thể dẫn đến trầm cảm kinh niên, lo lắng và mất ngủ.

– Thiếu sắt:

Thiếu sắt đã được chứng minh là hậu quả của việc phẫu thuật cắt bỏ một vùng của dạ dày, nơi có các tế bào sản sinh axit HCl. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc sử dụng thuốc Tagamet (chứa cimetidin) trong thời gian dài làm giảm đáng kể sắt. Đồng thời, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bổ sung thêm axit đã cải thiện được sự thiếu hấp thu sắt ở những bệnh nhân bị achlorydia (bệnh lý dạ dày vô toan – không sản xuất axit dịch vị).

Hậu quả của thiếu sắt là gây thiếu máu khiến bệnh nhân bị hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, dễ bị kích động.

– Thiếu vitamin B12

Vitamin B12 (cobalamin) là vitamin cần thiết cho hoạt động bình thường của thần kinh và chức năng não. Acid dạ dày chịu trách nhiệm ở khâu đầu tiên trong quá trình hấp thu vitamin B12. Việc sử dụng các thuốc ức chế tiết axit làm giảm mạnh bài tiết acid dịch vị có thể gây ra thiếu vitamin B12 trong máu.  Một nghiên cứu trên 359 người ở độ tuổi 69-79 năm bị viêm dạ dày teo nghiêm trọng – căn bệnh đặc trưng bởi axit trong dạ dày thấp, kết quả là có hơn 50 phần trăm bệnh nhân có nồng độ vitamin B12 thấp. Một nghiên cứu khác được thực hiện trên đối tượng khỏe mạnh sử dụng Prilosec (chứa omeprazol) với liều 20 mg và 40 mg mỗi ngày trong hai tuần, sự hấp thu vitamin B12 đã giảm đi 72% – 88% tương ứng.

– Giảm hấp thu folat

Folate (axit folic) tham gia quá trình tạo máu và là chất rất quan trọng để giữ cho hệ thống tim mạch khỏe mạnh để ngăn ngừa khuyết tật bẩm sinh nhất định. Nồng độ acid dạ dày thấp có thể cản trở hấp thu folate bằng cách tăng pH trong ruột non.

– Giảm hấp thu canxi

Canxi làm cho xương và răng của chúng ta khỏe mạnh và chịu trách nhiệm cho hàng trăm, hàng ngàn các chức năng khác trong cơ thể. Tầm quan trọng của acid dạ dày trong việc hấp thụ canxi đã được biết đến từ những năm 1960, khi một nhóm các nhà nghiên cứu lưu ý rằng một số bệnh nhân loét hầu như không hấp thụ canxi (chỉ 2 phần trăm). Khi điều tra thì họ phát hiện ra rằng những đối tượng này có độ pH cao dạ dày (6,5) và acid dạ dày rất ít. Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu đã bổ sung HCL cho họ, làm giảm độ pH dịch vị đến 1, sự hấp thu canxi đã tăng gấp năm lần.

Canxi đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành cũng như vững chắc của xương. Thiếu canci làm tăng nguy cơ loãng xương, xốp xương và gãy xương. Một vài nghiên cứu cho thấy có mối liên quan sử việc sử dụng dài ngày PPI và nguy cơ gãy xương, tuy nhiên các nghiên cứu này chứa nhiều yếu tố gây nhiễu. Ngoài ra, bệnh nhân sử dụng liều cao PPI cũng có nguy cơ gãy xương cao hơn so với các bệnh nhân dùng liều thấp. Bệnh nhân sử dụng PPI trong thời gian rất dài (trên 1 năm) có khả năng lớn sẽ bị gãy xương.

-Giảm hấp thu kẽm

Kẽm tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa liên quan đến việc giữ ổn định màng tế bào, hình thành xương mới, bảo vệ miễn dịch, nhìn ban đêm, và sự phát triển mô. Trong một thử nghiệm cho thấy sử dụng Tagamet làm giảm hấp thu kẽm khoảng 50 phần trăm. Một thử nghiệm khác với Pepcid (chứa famotidin) làm tăng pH dạ dày đến hơn 5, có tác dụng tương tự.

Bình luận (0)